Tài nguyên dạy học

CHÁT CHÍT CÙNG AENM

NHÀ MÌNH ONLINE !

Tiến Quốc
Tố Uyên
Thuý Hằng
Linh Sương
Vũ Mai
Nguyễn Duyên
Chi Uyên
Minh Anh
Châu Tuấn
Thành Nhân
Chí Thành
Đức Thiệu

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Cao Minh Anh)
  • (tinhlang7715@yahoo.com)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Happy_new_year.swf 535587_346776165442251_1103757000_n.jpg Diendanhaiduongcom190722.jpg Cau_hat_tinh_que.swf Chao_nam_hoc_moi.swf EmoiHN_PHO.swf Vlt.swf BAI_CA_TET.swf Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Cmnammoi2013.swf Xuan1.swf Nm1.swf Banh_SN.jpeg Ong_do.swf HAPPY_BIRTHDAY1.swf Chuc_nam_moi_2013_2_xvid.swf Bannertet2013.swf Giang_sinh_vui_ve.swf BannerGS123.swf

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên
    Gốc > Tất cả >

    Tầm hữu vị ngộ- Một bài thơ hay của chủ tịch HồChí Minh

    Lại cũng là tình cờ, như bao người thường nói, tôi đã được đọc và nghe về bài thơ này của Bác cùng hoàn cảnh ra đời của nó. Tôi đã nhờ anh google tra dùm và thấy bài thơ trên có vài chỗ khác nhau và cũng có những bản dịch khác nhau:

    尋友未遇 (Tầm hữu vị ngộ)

    Hồ Chí Minh - 胡志明

    尋友未遇

    Tầm hữu vị ngộ

    里尋君未遇君,
    馬蹄踏碎嶺頭雲。
    歸來偶過山梅樹,
    每朵黃花一點春。

    Thiên lý tầm quân vị ngộ quân,
    Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.
    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
    Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

    hay:

    尋友未遇

    Tầm hữu vị ngộ

    里尋君未遇君,
    馬蹄踏碎嶺頭雲。
    歸來偶過山梅樹,
    每朵黃花一點春。

    Bách lý tầm quân vị ngộ quân,
    Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.
    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
    Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

    尋友未遇

    Tầm hữu vị ngộ

    里尋君未遇君,
    馬蹄踏碎嶺頭雲。
    歸來偶過山梅樹,
    每朵黃花一點春。

    Bách lý tầm quân vị ngộ quân,
    Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.
    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
     Nhất đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

    bản dịch thơ:

    - của Phan Văn Các:

    "Trăm dặm tìm không gặp cố nhân
    Mây đèo dẫm vỡ ngựa dồn chân
    Đường về chợt gặp cây mai núi
    Mỗi đoá hoa vàng một nét xuân.”

    - của Xuân Như:

    "Muôn dặm tìm huynh chẳng gặp huynh,
    Đầu non vó ngựa đạp mây xanh,
    Đường về chợt quá cây mai núi,
    Mỗi đóa xuân vàng một nét thanh."

    - một bản khác:

    "Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh,
    Đường về vó ngựa dẫm mây xanh.
    Qua đèo chợt gặp mai đầu suối,
    Đoá đoá vàng tươi xuân thắm cành."

    dù có nhiều bản dịch khác nhau, nhưng mỗi bản đều có những nét đặc sắc của nó, tuy nhiên để lột tả hết cái "thần" của hai câu:

                                      Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.

    và:

                                      Nhất đóa hoàng hoa, nhất điểm xuân.

    là một điều rất khó, chúng ta cùng xem một số bài của các tác giả khi nói về bài thơ này nhé! ( Đồ MA)

        

                 Về bài thơ “ Tầm Hữu vị ngộ” của Hồ Chí Minh

     Bài thơ "Tầm hữu vị ngộ" (Tìm bạn không gặp) được GS Phan Văn Các sưu tầm, dịch thơ, công bố vào năm 1990, sau đó đã được đưa vào "Hồ Chí Minh toàn tập" và "Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử" năm 1995.
    Năm 2004, một tác giả có bài viết cho rằng "hữu" (bạn) trong bài thơ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Báo Quân đội nhân dân đầu năm 2005 đã đăng bài viết của Thủy Trường, qua nhiều nhân chứng, lý lẽ, khẳng định "hữu" là Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam năm 1953-1954.
    "Người làm báo" số 5/2005, qua bài của Nguyễn Huy Thông cũng đã đồng ý với Thủy Trường. Bài thơ tứ tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chữ) này mang âm hưởng thơ Tống Đường Trung Quốc - một dòng thơ bác học, dân gian, cổ kính mà Bác đã hấp thụ và sáng tạo. Đi tìm "cội nguồn" của bài thơ này, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lâm Minh Hoa cho rằng, bên cạnh các loại thơ trữ tình, tự sự còn có loại thơ mang giá trị Phật học "đưa Thiền vào thơ", "ngụ Thiền trong thơ..." của các nhà sư theo đạo Phật.
    Tuy nhiên, lại có hiện tượng nhà thơ "phi thiền" lại phóng tác theo thơ Thiền. Lâm Minh Hoa cho biết: Trường hợp điển hình nhất là bài thơ ngộ đạo của một ni-cô, chép trong cuốn Hạc Lâm ngọc lục của tác giả đời Tống (Trung Quốc) La Đại Kinh đã được Bác Hồ phóng tác để tặng đồng chí Vi Quốc Thanh vào cuối năm 1953...". Bài thơ của ni-cô như sau:
                                       "Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân,
                                         Mang hài đạp biến Lũng đầu vân.
                                         Quy lai tiếu niệp mai hoa khứu
                                         Xuân tại chi đầu dĩ thập phân".
    Lâm Minh Hoa "tạm dịch" là:
                                        "Suốt ngày tìm xuân mà chẳng thấy
                                         Giầy cỏ đạp khắp Lũng(1) đầu mây
                                         Quay về cười hái đóa mai ngửi
                                         Đầu cành tứ xuân đã tràn đầy".
    Ý tứ bài thơ cổ của một vị tu hành đã "nhập" vào Bác và Bác đã "sáng tạo" lại:
                                         "Bách lý tầm quân vị ngộ quân
                                          Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân
                                          Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ
                                          Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân".

    Phan Văn Các đã dịch thơ:
                                          "Trăm dặm tìm không gặp cố nhân
                                           Mây đèo dẫm vỡ ngựa dồn chân
                                           Đường về chợt gặp cây mai núi
                                           Mỗi đoá hoa vàng một nét xuân”
    Với bài thơ của ni-cô, bà đã giác ngộ rằng đạo Thiền chẳng cần đi tìm ở đâu xa, "nó" cũng như mùa xuân đã về trên cành mai đó". Bác Hồ đã mượn lấy cái xác của bài thơ Thiền để diễn tả một hồn thơ mới. Thật là tuyệt vời! Sáng tạo, độc đáo, còn làm phong phú thêm sự liên hệ giữa thơ Thiền và thơ đời thường (Lâm Minh Hoa).
    Qua bài thơ "Tìm hữu vị ngộ" này của Bác, chúng ta còn thấy rõ được con người của Bác, tấm lòng của Bác đối với bạn bè, nhân dân trong nước, trên thế giới, lòng yêu thương, tính nhân văn Hồ Chí Minh. Và chúng ta lại thêm một lần nữa ngạc nhiên về vốn tri thức thi ca cổ, vốn "Phật giáo học" của Bác, một nhà văn hóa lớn, Anh hùng giải phóng dân tộc luôn mong mỏi "hoa vàng từng đóa xuân tươi điểm cành".

                                                                       Theo Nguyễn Văn Khoan
                                                                               (QĐND, 23/6/2005)

     

    Qua đèo chợt gặp mai đầu suối

                                                                                    Hoàng Kim

                                Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh

                                Đường về vó ngựa dẫm mây xanh

                                Qua đèo chợt gặp mai đầu suối

                                Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành.

    Tôi biết bài thơ kỳ lạ này của Bác Hồ đăng trên báo khoảng năm 1970 do một chuyện ngẫu nhiên tình cờ nên nhớ mãi. Bài thơ kỳ lạ vì ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, vì nó là thơ của Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến hơn bốn mươi năm qua.

    Thuở ấy, tôi mới mười bảy tuổi, đã cùng người anh trai ra thăm đèo Ngang. Chúng tôi vừa đi xe đạp vừa đi bộ từ chân núi lên đến đỉnh đèo. Gần cột mốc địa giới hai tỉnh trên đỉnh đường xuyên sơn, cạnh khe suối ven đỉnh dốc sườn đèo có cây mai rừng rất đẹp. Chúng tôi đang thưởng ngoạn thì chợt gặp xe của bộ trưởng Xuân Thủy và bí thư tỉnh ủy Quảng Bình vừa tới. Họ đã xuống xe ngắm nhìn trời, biển, hoa, núi và bộ trưởng Xuân Thuỷ đã bình bài thơ trên.

    Bộ trưởng Xuân Thủy là nhà ngoại giao có kiến thức rộng, bạn thơ của Hồ Chí Minh, giỏi dịch thơ chữ Hán. Ông cũng là người đã dịch bài thơ “Nguyên tiêu” nổi tiếng, nên khi tôi tình cờ được nghe lời bình phẩm trực tiếp của ông về bài thơ trên thì tôi đã nhớ rất lâu. Tôi cũng hiểu nghĩa rõ ràng cụm từ “Trung Nam Hải” từ dịp ấy.

    Ba mươi năm sau, khi anh Gia Dũng sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu bài thơ “Tìm bạn không gặp” trong tập thơ “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ một nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Bác do nhà Hán học nổi tiếng Phan Văn Các diễn nghĩa và dịch thơ. Nội dung tuy vẫn thế nhưng bản dịch mới lời dịch sát nghĩa chữ Hán hơn so với bản tự dịch thoáng ý của chính Bác và có khác MỘT chữ so với bài mà tôi được đọc và nghe bình trước đây. Đó là từ “nghìn dặm” được thay bằng từ “trăm dặm” (“bách lý tầm quân vị ngộ quân” thay vì “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”). Bản dịch mới có lời ghi chú, nghe nói là của Bác. Bài thơ viết năm 1950 nhưng xuất xứ và cảm xúc thực sự của Người khi thăng hoa bài thơ nổi tiếng này thì nay vẫn còn để ngỏ.

    Bác ra nước ngoài từ đầu năm 1950 đến đầu tháng Tư mới về nước theo hồi ức “Chiến đấu trong vòng vây” của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác lúc đó đã sáu mươi tuổi, bí mật đi đến Bắc Kinh gặp chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông rồi đi luôn sang Matxcơva gặp đồng chí Stalin. Bác cũng đi tìm gặp đại tướng Trần Canh khi chuẩn bị chiến dịch Biên giới. Trong cơn lốc của các sự kiện, Bác khẳng định: “ Tổng phản công của ta sẽ là một giai đoạn lâu dài. Rồi đây, có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi là phải do sức nỗ lực của chính bản thân ta quyết định”.

    “Nghìn dặm” hay “trăm dặm”? “gặp bạn” hay “không gặp” hoặc “gặp nhưng không gặp về cách làm”? Ngữ nghĩa của câu thơ “Bách lý tầm quân vị ngộ quân” khác hẳn với “thiên lý tầm quân vị ngộ quân” và không đơn giản dịch là “Tìm bạn không gặp”. Dường như Bác đang đề cập một vấn đề rất lớn của định hướng chiến lược đối ngoại. Nhiều sự kiện lịch sử hiện tại đã được giải mã nhưng còn nhiều ẩn ý sâu sắc trong thơ Bác cần được tiếp tục tìm hiểu, khám phá thêm. Những năm tháng khó khăn của cách mạng Việt Nam “chiến đấu trong vòng vây”; Những tổn thất và sai lầm trong cải cách ruộng đất do sự thúc ép từ phía Liên Xô và sự vận dụng không phù hợp kinh nghiệm của Trung Quốc; Quan hệ của nước nhỏ đối với các nước lớn. Nhiều điều tinh tế ẩn chứa trong thơ Bác.

    Ý tứ trong bài thơ của Bác rất gần với với một bài thơ cổ của Trung Quốc thời nhà Tống: “Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân/Mang hài đạp phá lãnh đầu vân/ Quy lai khước phá mai hoa hạ/ Xuân tại chi đầu vị thập phân”. Bài thơ tả một ni cô mang hài trèo đèo vượt núi cực khổ tìm xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp xuân. Đến khi trở về mới thấy xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà.

    Bác Hồ cũng vượt vòng vây phong tỏa, chịu nhiều gian khổ suốt bốn tháng ròng để tìm sự ủng hộ quốc tế cho cách mạng Việt Nam đang “chiến đấu trong vòng vây”. Trên đường về, qua đèo, Bác chợt gặp cây mai đầu suối và Bác đã ngộ ra được những vấn đề sâu sắc của phương pháp cách mạng. Đối diện với mặt trời đỏ “đông phương hồng, mặt trời lên” là mặt TRĂNG hiền hoà (rằm xuân lồng lộng trăng soi) và gốc MAI vàng cổ thụ bên SUỐI nguồn tươi mát (bên suối một nhành mai). Trăng, suối, hoa mai là những cụm từ quan trọng trong thơ Bác. Nó là triết lý ứng xử tuyệt vời của một nước nhỏ đối với các nước lớn trong quan hệ quốc tế phức tạp. Trời càng sáng, trăng càng trong, nước càng mát, mai càng nở rộ.

    Ngày xuân, hiểu sâu thêm một bài thơ hay của Bác và góp thêm một tản văn về trăng, suối nguồn, hoa mai.

     

    Ngày xuân...

                                                             Tìm bạn không gặp, gặp hoa rừng

                                                                                            Nguyễn Anh Đào

                  Trong sự nghiệp thơ văn của Bác Hồ thì thơ chữ Hán của Người có vị trí hết sức quan trọng. Ngoài tập Nhật ký trong tù, Bác còn làm nhiều bài thơ bằng chữ Hán, trong đó có những bài mà giá trị của nó phải nói là đạt tới đỉnh cao của nền thi ca dân tộc như các bài Nguyên tiêu, Báo Tiệp, Đăng Sơn, Đối nguyệt...

        Ta biết, thơ chữ Hán, nhất là thơ Đường vốn chặt chẽ về niêm luật và bố cục. Người làm thơ phải tuân thủ những quy ước chung theo phong cách cổ thi. Tuy vậy, thơ Bác vẫn có mhững nét riêng độc đáo, không giống với bất cứ một tác giả Đường Tống nào, vì ngôn ngữ trong thơ Bác thường giản dị, tư nhiên, nhưng có sức lan tỏa, cuốn hút người đọc bởi tứ thơ đến bất ngờ, lóe sáng. Một trong những bài thể hiện rõ phong cách riêng của Bác là bài Tầm hữu vị ngộ. Bài thơ ra đời cũng trong một hoàn cảnh lịch sử đáng ghi nhớ của đất nước. Đó là một ngày đầu xuân cách đây gần 60 năm (tháng giêng 1954), giữa cảnh đại ngàn của núi rừng Việt Bắc kháng chiến, Bác Hồ "Ung dung yên ngựa trên đường suối reo" - (Tố Hữu). Người đi công tác, gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Trên đoạn đường dài 60 cây số, vó ngựa vượt qua những đèo dốc gập ghềnh, có chỗ chìm trong mây mù đầu núi. Bác ghé thăm đại bản doanh của Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng đến nơi thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng vừa ra mặt trận. Bác quay ngựa trở về giữa hoa rừng, mây núi thì vừa lúc một tứ thơ hay vụt đến: Tìm bạn không gặp, và bài thơ Tầm hữu vị ngộ ra đời:

                                            "Bách lý(*) tầm quân vị ngộ quân

                                             Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân

                                             Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ

                                           Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân".

     Dịch nghĩa:                   

                                            Tìm bạn không gặp

                                 "Trăm dặm(*) tìm anh chẳng gặp anh

                                  Vó ngựa dẫm vỡ những đám mây trên đầu núi

                                 Trở về tình cờ qua một cây mai rừng

                                 Mỗi đóa hoa vàng là một điểm xuân".

      Dịch thơ:            

                                  "Trăm dặm tìm không gặp cố nhân

                            Mây đèo dẫm vỡ, ngựa chồn chân

                                  Đường về chợt gặp cây mai núi

                                  Mỗi đóa hoa vàng một nét xuân".

                         Phan Văn Các dịch (Thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh-Nxb VHTT, 2002)

               Bài thơ mang đậm phong vị của Đường thi, là kết quả của sự giao cảm mãnh liệt giữa cảnh và tình trong một khỏanh khắc đặc biệt. Cùng tứ thơ Tìm bạn không gặp nhưng trong thơ Đường, khi kết thúc bài, chỉ thấy sự mịt mù cách trở, và người quay về thường đem theo tâm trạng buồn, thất vọng. Thôi Hộ tìm tới chỗ ở của người năm trước không thấy, đã đề thơ: "Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong"- (Mặt người chẳng biết ở nơi nào. Hoa đào thì vẫn như cũ và cười với gió đông). Giả Đào trong "Tầm ẩn vị ngộ"- (Tìm người ẩn không gặp), chỉ thấy "Quẩn quanh ngọn núi kia/ Mây mù nhìn chẳng rõ"- (Nguyên tác: Chỉ tại thử sơn trung/ Vân thâm bất tri xử). Còn ở Bác Hồ, tuy không gặp bạn nhưng lại gặp hoa mai rừng vừa lúc nó đang phô ra tất cả những vẻ đẹp rực rỡ một cách tự nhiên- Mỗi đóa hoa vàng một nét xuân. Không khí trong thơ thật là vui và rộn rã.

              Hình ảnh vó ngựa đạp vỡ những đám mây trên đầu núi (Mã đề đạp tóai lĩnh đầu vân), khắc họa vào bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, càng tôn lên vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng Việt Bắc, một thời được coi là Thủ đô của nước Việt Nam kháng chiến. Nhà thơ Hồ Chí Minh với phong thái của một vị tư lệnh tối cao đang chỉ huy cuộc kháng chiến trường kỳ và vĩ đại của dân tộc sắp đến ngày toàn thắng, ung dung ngồi trên lưng ngựa, vừa bình tĩnh lạc quan, vừa khẩn trương linh hoạt. Đó là phong tháI của một người luôn chủ động trước mọi tình thế cũng như làm chủ mọi chuyển động của không gian và thời gian. Và mỗi bước đi của Người có mây ngàn vấn vít dưới chân, có hoa rừng khoe sắc đón chào... Bài thơ là phác họa của bức tranh xuân Việt Bắc đầy chất lãng mạn, trong đó, thiên nhiên và con người như hòa quyện vào nhau, tràn đầy khí phách lạc quan.

                                                                                              N. A. Đ

                                     Hoa Xuân trong thơ Hồ Chí Minh

     

    Thơ  xuân của Bác có gần 200 bài, nhưng trong đó hoa xuân hiện diện rất ít. Tuy nhiên, mỗi lần “nở” trên trang thơ, chúng đều có vẻ đẹp riêng, đem đến cho người đọc nhiều cảm xúc thú vị. Mùa xuân Giáp Ngọ (1954), trên đường đi thăm bạn trở về, Bác ứng khẩu bài thơ xuân:

    Bách lý tầm quân vị ngộ quân

    Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân

    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ

    Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

    Giáo sư Phan Văn Các dịch:

    Trăm dặm tìm không gặp cố nhân

    Mây đèo xéo nát ngựa chồn chân

    Ra về chợt gặp cây mơ núi

    Mỗi đoá hoa vàng một điểm xuân.

    Cái nền, cái khung để hoa mai có mặt ở đây mang đầy sắc thái biểu cảm. Đấy là một nét hào sảng mà nên thơ của khách lữ hành ngồi trên yên tuấn mã:

    Mây đèo xéo nát ngựa chồn chân.

    Kể ra lời dịch chưa thật sát, nguyên gốc của câu thơ là: “Gót ngựa đạp vỡ vụn áng mây trên đỉnh đèo”. Đấy là một thoáng bất ngờ như điểm nhấn của cuộc hành trình làm cho cảnh vật đột nhiên bừng sáng lên:

    Ra về chợt gặp cây mai núi

    Và cuối cùng là đoá hoa mai xuất hiện trong vẻ đẹp rạng rỡ, tràn đầy sức xuân:

    Mỗi đoá hoa vàng một điểm xuân

    Trước mắt ta, sáng lên một bông hoa mai tươi tắn, cao hơn, một cây mai đầy hoa duyên dáng đứng trên núi tản mạn mây bay và rộng hơn là cả một mùa xuân rực rỡ chan hoà cảnh vật. Lấy một bông hoa để nói lên cả một mùa xuân là thi pháp cổ điển thường dùng, tức lấy điểm để nói diện. Đoá hoa mai còn thể hiện phong thái ung dung, lạc quan của nhà thơ. Đặt bài thơ này trong thời điểm chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra quyết liệt, ta càng hiểu thêm, hoa mai như một tín hiệu mùa xuân báo ngày vui chiến thắng.

    Từ đây lùi lại sáu năm (năm 1948), ta lại được thưởng thức vẻ đẹp của hoa xuân trong bài thơ “Tặng Bùi Công” với hai câu mở đầu:

    Khán thư sơn điểu thê song hãn

    Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì...

    Dịch:

    Xem sách, chim rừng vào cửa đậu

    Phê văn, hoa núi ghé nghiêng soi.

    Lúc này, Bác đang ngồi làm việc tại nhà sàn Việt Bắc. (Câu hai nguyên nghĩa phải là: Duyệt thảo công văn giấy tờ, hoa xuân soi vào lọ mực). Một bức tranh tĩnh. Chim rừng đậu yên trên song cửa sổ, hoa xuân lặng lẽ chiếu vào lọ mực như muốn để chủ nhân tĩnh tâm, tĩnh trí ngồi làm việc. Song vẫn không giấu được chất thơ của cảnh. Có cảm tưởng như Bác dành phút thời gian rảnh rỗi cho thiên nhiên, trước là thư giãn tinh thần, sau nữa, không nỡ để qua đi cuộc đến thăm bất ngờ và thú vị của chim rừng và hoa núi. Chim đậu, hoa soi, tĩnh mà động, cái tĩnh tạo nên cái động âm vang khi tin thắng trận báo về trong tiếng vó ngựa dồn dập:

    Tiệp báo tần lai lao dịch mã

    (Tin vui thắng trận dồn chân ngựa).

    Kháng chiến chống Pháp kết thúc sau mười năm thì xảy ra cuộc không kích của Mỹ ra đất Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh ác liệt. Bước sang Tết Đinh Mùi (1967), như thường lệ, Bác viết thơ mừng xuân mới gửi nhân dân hai miền Nam - Bắc:

    Xuân về xin có một bài ca

    Gửi chúc đồng bào cả nước ta

    Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi

    Tin mừng thắng trận nở như hoa.

    Hoa xuân lại đến trong thơ Hồ Chí Minh nhưng đây là hoa chiến thắng, hoa mang đến niềm vui cho tất cả chúng ta. Đó là những bông hoa nở trong cuộc chiến tranh chính nghĩa, nó hợp với lẽ sinh tồn và phồn thịnh của trời đất, của vạn vật.

    Hoa trong thơ Bác thấm nhuần sâu sắc thi tứ và thi pháp cổ điển. Lấy thiên nhiên làm đối tượng cảm xúc. Nó chỉ gợi mà không tả, giành một khoảng trống tưởng tượng trong lòng người đọc, đồng thời nó mang vẻ đẹp của thời đại, của tâm hồn và phong cách nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

    Hữu Tuân


    Nhắn tin cho tác giả
    Cao Minh Anh @ 12:27 15/07/2013
    Số lượt xem: 967
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ÔNG ĐỒ XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ ĐÃ GHÉ THĂM, XIN TẠM BIỆT VÀ HẸN GẶP LẠI LẦN SAU!